Thursday, January 17, 2013

Những chuyện sau khi hiệp định Geneva đã được ký.

Những hình ảnh cóp từ mạng Chutluulai.net


Events Following Signing Of Agreement At Geneva –
Các gia đình lo bán đồ đạc để chuẩn bị di cư vào Nam sau khi hiệp định Geneva được ký.

                                         


                     


                     


                     

Những tài sản, những thanh lịch bỏ lại Hà Nội, nay còn không???


                    


                    


                    

Người Hà Nội bán hết để vào Nam!


                                         


                                         


                                         

Những hình ảnh này, ai đã từng ở Sàigòn sau 30/4/75 sẽ thấy lịch sử lập lại gần như một cuốn phim được chiếu lại, khung cảnh thay vì Hànội thì nay là Sài gòn. 

Những người Hànội xưa nhìn thật thanh lịch, luôn ăn mặc lịch sự.

7-1954 Hanoi Streets crowded with people after cease-fire announced.
Tại quảng trường trước Nhà hát Lớn Hà Nội, tháng 7-1954, nhiều người dân mít tinh phản đối việc chia cắt đất nước theo Hiệp định ký giửa Pháp và Việt Minh sau khi Hiệp định này được công bố


                       

Dân Hà Nội thời 54, xe đạp rất nhiều và ăn mặc khá đẹp. Điều này đã không giữ được sau 54?

                      


Operation Passage to Freedom, October 1954 - "Tàu Há Mồm" tại Hải Phòng
Vietnamese refugees board LST 516 for their journey from Haiphong, North Vietnam, to Saigon, South Vietnam during Operation Passage to Freedom, October 1954. This operation evacuated thousands of Vietnamese refugees from the then newly created Communist North Vietnam to the Democratic South Vietnam. By the end of the operation, the Navy had carried to freedom more then 293,000 immigrants, vehicles, and other cargo. The Naval Historical Center and Surface Navy Association are seeking Navy veterans and former Vietnamese refugees who witnessed and participated in this little known rescue. U.S. Navy photo. (RELEASED).

Những người tỵ nạn VN lên tàu LST 516 để đi từ cảng Hải Phòng, Bắc Việt, để tới Sài Gòn Nam Việtnam trong chiến dịch "Đường đến tự do" tháng 10/1954. Chiến dịch này đã di tản hàng ngàn người tỵ nạn từ miền Bắc Cộng sản mới thành lập để mang họ vào miền Nam Dân Chủ. Tính đến ngày chấm dứt chiến dịch, Hải quân đã chuyên chở hơn 293,000 người đến bến Tự do (hai trăm chín mươi ba ngàn) với xe cộ và các thứ hàng hoá khác nữa!
Trung tâm lịch sử Hải quân đang tìm kiếm những người lính Hải quân, các người tỵ nạn chứng kiến và có tham dự vào câu chuyện này!


                    


Vietnamese refugee in a topsides food service line on board USS Bayfield (APA-33), while enroute from to Saigon, Indochina, August 1954.
Phục vụ bữa ăn cho người tỵ nạn trên đường đến Sài Gòn. Trên tàu USS Bayfield.


                                  


A Navy Hospital Corpsman administers medical treatment to a Vietnamese refugee with an painfully infected arm, while en route from Haiphong to Saigon, Indochina, on board USS Bayfield (APA-33), 7 September 1954
Các nhân viên y tế đang săn sóc cho một người tỵ nạn với cánh tay bị nhiễm trùng, đau đớn!


                                 


Vietnamese refugee receives medical treatment from a Navy Hospital Corpsman, while en route from Haiphong to Saigon, Indochina, on board USS Bayfield (APA-33), 7 September 1954.
Chăm sóc y tế cho dân tỵ nạn trên tàu USS Bayfield, 1954


                                  


Young Vietnamese refugee lends a helping hand to a sailor chipping paint on board USS Bayfield (APA-33), while enroute from Haiphong to Saigon, Indochina, 7 September 1954.
Cậu bé đang giúp một thuỷ thủ cạo sơn trên tàu.


                    


Vietnamese refugee children coax for candy, while en route from Haiphong to Saigon, Indochina, on board USS Bayfield (APA-33), circa September 1954.
Trẻ em tỵ nạn giơ tay xin kẹo trên tàu USS Bayfield trên đường từ Hải Phòng vào Sài Gòn, tháng 9-1954


                                  


USS Bayfield (APA-33) docks at Saigon, Indochina, to offload refugees following a trip from Haiphong, September 1954.
Tàu USS Bayfield neo tại Sài Gòn để đưa dân tỵ nạn xuống đất liền sau một chuyến hải hành từ Hải Phòng, tháng 9-1954

                    


Each holding a package of rice and fish, Vietnamese refugees leave USS Bayfield (APA-33) at Saigon, Indochina, after a trip from Haiphong, September 1954
Mỗi người cầm trong tay gói thực phẩm gồm cơm và cá, đang rời tàu tại Sài Gòn.


                                   


A Vietnamese mother and baby are helped down the gangway of USS Estes (AGC-12), as refugees arrive at Saigon after being evacuated from the North.
Môt bà mẹ với đứa con bế trên tay được giúp đỡ xuống cầu thang tàu USS Este khi tàu vào đến bến bờ tự do là Sài Gòn.


                      


Vietnamese refugees receive food on board USS Bayfield (APA-33) while en route to Saigon, Indochina, from Haiphong, circa September 1954.
Phân phát thực phẩm cho người di cư tỵ nạn trên tàu USS Bayfield, trên đường từ Hải Phòng vào Sài Gòn, Tháng 9-1954

                     


Four crewmen display a welcoming banner for Vietnamese refugees coming on board USS Bayfield (APA-33) for passage to Saigon, Indochina, from Haiphong, 3 September 1954.
Các thủy thủ tàu Bayfield của Hải quân Mỹ chào đón dân tỵ nạn tại cảng Hải Phòng, 3-9-1954


                      


A Sailor assists a heavily burdened Vietnamese refugee boarding USS Bayfield (APA-33) for passage to Saigon, Indochina, from Haiphong, 3 September 1954.
Anh thuỷ thủ giúp đỡ một người tỵ nạn với đôi gánh nặng chĩu!


                                            


Navy Chaplain Lieutenant Francis J. Fitzpatrick assists Vietnamese refugees on board USS Bayfield (APA-33), circa September 1954. He acted as their intrepreter during their voyage to Saigon, Indochina, from Haiphong.
Một vị tuyên úy Hải quân đang giúp phiên dịch cho một phụ nữ di cư trên tàu USS Bayfield trong cuộc hành trình từ Hải Phòng vào Sài Gòn, tháng 9-1954


                                 


A crewmen rations out water for Vietnamese refugees on board USS Bayfield (APA-33) during their journey to Saigon, Indochina, from Haiphong, circa September 1954
Một thủy thủ tàu USS Bayfield của Mỹ đang chia nước uống cho dân tỵ nạn trong cuộc hành trình từ Hải Phòng vào Sài Gòn, tháng 9-1954

                     

Sunday, January 13, 2013

Anh hùng Mai Thanh Thế ( Anh hùng không tay )

Thêm một gương anh hùng, cụt cả hai tay trong chiến đấu, nhưng vẫn kiên cường chiến đấu tới cùng.

  Mai Thanh Thế (tức Hồng Kiên), sinh năm 1941 dãn tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Quới, huyện Thạnh Trị , tỉnh Sóc Trăng, nhập ngũ tháng 6 năm 1961. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ đặc công của huyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống yêu nước (bố, mẹ, anh, em đều tham gia công tác kháng chiến) được gia đình giáo dục và cán bộ dìu dắt, Mai Thanh Thế sớm giác ngộ, tham gia công tác cách mạng từ nhỏ, là một cậu bé liên lạc gan dạ, có nhiều mưu mẹo, sáng kiến.

   Từ ngày nhập ngũ Mai Thanh Thế luôn luôn tỏ ra là một chiến sĩ có tinh thần dũng cảm ngoan cường, thường xung phong đi đầu trong những lúc khó khăn, nguy hiểm, chấp hành nghiêm mệnh lệnh, hoàn thành xuất sâc mọi nhiệm vụ. Bị thương nhiều lần, đồng chí vẫn không rời trận địa, khi bị thương cụt cả hai tay, vẫn tiếp tục động viên, cổ vũ đồng đội xông lên tiêu diệt quân thù.

   Trong trận quấy rối đồn Cầu Trâu năm 1961, lúc rút ra, 1 chiến sĩ trong tổ bỏ quên chiếc mã tấu trong hàng rào, Mai Thanh Thế xin ban chỉ huy cho quay lại lấy. Đồng chí nói: “Đất nước ta còn nghèo, trang bị của quân đội ta còn rất thiếu thốn, vũ khí của Đảng, của nhân dân giao cho, mình bỏ lại là có khuyết điểm lớn, gây thành tác phong xấu trong đơn vị”. Đồng chí bò vào, lấy bằng được, mặc dù lúc đó đạn địch trong đồn đang bắn ra rất dữ.

   Tháng 8 năm 1962, trong một trận đánh đồn, khi hết cả thủ pháo, lựu đạn để mở cửa, Mai Thanh Thế đã kiên quyết dùng mã tấu xông lên chặt hàng rào, dưới hỏa lực dày đặc của địch, mở đường cho bộ đội xung phong.

   Đồn Văn Tiến là nơi địch bố phòng kiên cố, ngoài 4 lớp rào kẽm gai, xen lẫn với mìn, chúng còn đào mương, thả chó, và thắp đèn điện sáng rực suốt đêm. Đồng chí vẫn quyết tâm tìm mọi cách lọt vào điều tra nẳm vững tình hình địch và địa hình, rồi dẫn đường đưa đơn vị vào đánh nhanh, diệt gọn.

   Ngày 28 tháng 7 năm 1962, đơn vị đi đánh đồn Cầu Trâu (một đồn khét tiếng gian ác đã gây nhiều nợ máu ở vùng này), tổ đồng chí được giao đảm nhiệm múi chủ yếu. Mai Thanh Thế đã thề dưới cờ Đảng: “Quyết diệt sạch lũ giặc trong đồn, trả thù cho đồng bào, đồng chí, dù có phải hy sinh cũng quyết hoàn thành nhiệm vụ...” Trận đánh rất ác liệt, gặp khó khăn ngay từ đầu. Vừa vượt qua cửa mở, đồng chí đã bị thương, vào ngực. Khi xung phong, tay trái lại bị mảnh lựu đạn phạt gãy. Không do dự, Mai Thanh Thế nhờ bạn cắt hẳn cho khỏi vướng, băng tạm rồi dẫn tổ mũi nhọn của mình tiếp tục xông lên. Địch vẫn điên cuồng chống cự. Một quả lựu đạn nữa nổ gần, văng mảnh vào trán và cắt gãy nốt cánh tay phải của đồng chí. Ban chỉ huy cho ngay 2 chiến sĩ cáng đồng chí ra ngoài, song đồng chí nhất định không nghe:

   - Nhiệm vụ của tổ tôi chưa hoàn thành, nhất định tôi không rời trận địa, xin cứ cho tôi ở đây với anh em!...

   Và đồng chí tiếp tục vừa quan sát địch, vừa động viên đồng đội chiến đấu tới phút cuối cùng...

   Mai Thanh Thế đã nêu cao tấm gương hy sinh dũng cảm, sống oanh liệt, chết vẻ vang, giữ vững quyết tâm chiến đấu đến cùng, ơ đồng chí, luôn luôn thể hiện tinh thần đoàn kết lập công tập thể và tình thương yêu đồng đội sâu sắc, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Mai Thanh Thế được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Bài cóp từ vnmilitaryhistory.net.

Saturday, January 12, 2013

Bọn Đế quốc Mỹ





A PICTURE SAYS A THOUSAND WORDS


" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm?



" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm?



" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?



" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?

" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?



" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?

" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?



" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?



" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?






" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?





" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?




" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?



" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?



" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?






" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?



" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?


" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?

" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?




" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ? 





" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ? 


" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?






" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?



" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?



" Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi" Đặng Thùy Trâm ?




PFC. John Stananback cõng trên lưng một Việt cộng đến một trạm Y tế cấp cứu gần Bàu Bàng





"
Ôi giặc Mỹ !Trông bao tội ác của bây đã chất đầy như núi! Còn sống ngày
nào ta phải chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để trả được mối thù vạn
kiếp đó." 
Đặng Thùy Trâm 


Cóp bên blog Cohuynh.
 

                                                       ***

Hô hô, tự nhiên thấy áy náy với phe ta, lên mạng tìm hình " bđội ông c " mà không tìm ra, nhẽ bđội ta mải đánh Mỹ nên không chụp hình.


Nhìn kỹ hoá ra tên lính Ngụy đang băng bó cho cô bé.

Bực quá, lấy hình ông cụ post lên, nhưng bố khỉ không tìm ra hình ông cẵm em, nhẽ lo cho các cháu bận quá không có thì giờ làm hàng để chụp hình ?



Ông cđứng, không ôm ai, các cháu bé.


 
 Ông cđứng, cũng không ôm ai, các cháu lớn hơn.



Ông cụ ngồi, cũng chôm ai, một cháu bé.


 Ông cụ ngồi, cũng không ôm ai, các cháu lớn.



 Hôhô, cuối cùng ông cụ cũng gần ôm một bé, nhưng không phải Lừa.

 Địt mẹ, Lừa đéo có quà!

Chán đéo sợt nữa.








  

Bọn Mỹ láo khoét

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj9k2L3DKF_CYrvylxLWpF9hlyavXSr9G3TS08epleUR1YKEjUuiQ18Nh41GmoaiU711I3fSR3v1_eHAUdKxSjYdC0jfgRSx23pE0DORuTsI-MSSQW908hdnUhawQarAT_GrnNRLfp6Q77i/s1600/GenHays2.jpg

Thursday, January 10, 2013

Cù Chính Lan ( Anh hùng không tay )

Cù chính Lan ( 1930-1952 ) anh hùng quân đội nhân dân, liệt sỹ, quê Quỳnh Lưu, Nghệ An, con nhà nông dân nghèo.

Cách mạng tháng tám năm 45, ông cùng nhân dân lên huyện cướp chính quyền. Vào đoàn thanh niên, vào dân quân xã. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông tòng quân làm giao liên, ít lâu sau làm tiểu đội trưởng.

Năm 1951, ông cùng đơn vị tham gia chiến dịch Hòa Bình được nổi tiếng với danh hiệu " anh hùng đánh xe tăng, anh hùng đường số 6 ", và được thưởng huân chương.

Tháng 2/1952, đơn vị được lệnh đánh đồn Gôtô. Mở đầu, ông dẫn tiểu đội cắt hàng rào dây thép gai. Đại bác giặc từ những vị trí khác rót vào, ông trúng đạn văng mất một cánh tay ( aka arm not ear ). Tiểu đội phó đề nghị ông ra, ông vẫn kiên quyết cùng đồng đội tiến đánh lô cốt thứ nhất.

Đến lô cốt thứ nhì, ông lại trúng đạn văng mất cánh tay ( aka arm not ear ) kia. Anh em lại đề nghị ông ra, ông nói :

"Mình còn chân, vẫn còn đánh giặc được". Rồi trước bão lửa, ông vẫn chiến đấu ( by what ? ). Đạn lại cưa cụt một chân ( aka leg ) ông, cứu thương chạy đến đặt ông lên cáng, ông lăn xuống đất, nói :

"Tôi còn mồm ( aka mouth ), còn chỉ huy chiến đấu được". Ông dõng dạc hô lớn :

"Hạ đồn Tô, các đồng chí ơi ". Triệt hạ đồn, ông lịm dần rồi tắt thở ( aka die or KIA/ kill in action ) trên tay đồng đội ( not đồng chí ), mới 23 tuổi. ( Theo báo Nhândân )

Lời bình : Qua gương anh hùng trên cuả đồng chí Cù chính Lan, ta giải thích được câu tuyên bố cuả đồng chí X, về vấn đề từ chức !

Friday, January 4, 2013

KIA

Có tìm thấy một hài cốt cuả một quân nhân đã chết trận tại Nha Trang, thuộc tỉnh Khánh Hoà.

Trên thẻ bài có ghi :

Họ tên : Nguyễn Vĩnh Lân
Số quân : 68/137969
Loại máu : O +

Ai là thân nhân, hoặc biết về gia đình chiến hữu nói trên, xin liên lạc DT : 0935.899.347  Gặp Ni sư Thông Mẫn.
        Tin lượm được trên báo, xin phổ biến rộng rãi.

Tuesday, January 1, 2013

Người bị lãng quên !

Bà Lê Xuân Mai, bà vợ của Tướng Lê Văn Hưng, 80 tuổi, bị bại liệt. Người ngồi dưới chân bà là cô Lê Ánh Tuyết, 57 tuổi, con gái của bà.
Bà Lê Xuân Mai, bà vợ của Tướng Lê Văn Hưng, 80 tuổi, bị bại liệt. Người ngồi dưới chân bà là cô Lê Ánh Tuyết, 57 tuổi, con gái của bà.
Bà già 80 tuổi, bại liệt, nằm trên ghế bố  là bà vợ goá của Tướng Lê Văn Hưng. Tên bà là Lê Xuân Mai. Người ngồi dưới chân bà là cô LêÁnh Tuyết, cô con gái của ông bà, năm nay 57 tuổi.
Gia đình của một danh tướng mà hàng năm chúng ta trang trọng tưởng niệm, vinh danh nay đang sống khổ cực ở quê nhà Sài Gòn.
Tiệm tạp hoá nghèo của cô Lê Ánh Tuyết  ở Số  7/10 đường 20, phường 6, Quận Gò Vấp, Sài Gòn. Cô Ánh Tuyết có số Cell 0122.2059.262
UK gởi thông tin nầy đến gia đình A20, xin các đại ca giúp UK một tay gởi thông tin nầy đi càng xa, gửi cho càng nhiều người biết càng tốt, để tỏ tình cảm của chúng ta với người cũ,và xoa dịu phần nào những chịu đựng khổ cực của bà vợ và cô con  Tướng Lê Văn Hưng. UK
Bà Lê Xuân Mai và cô con sống nhờ quán tạp hóa nghèo..
Bà Lê Xuân Mai và cô con sống nhờ quán tạp hóa nghèo..
CTHÐ: Tháng 12 ,2012, tôi gặp Lời Nhắn của bạn UK trên Internet. Tôi gửi Lời Nhắn ấy đến quí vị. Tôi không biết Luật ODP của Mỹ có nhận vợ con của những sĩ quan đã chết trên chiến trường trong những tháng cuối của trận chiến đi sang Mỹ trong Chương Trình HO hay không?  Tôi thấy vợ con những sĩ quan chết trong những Trại Tù Khổ Sai miền Bắc được đi HO sang Mỹ. Tại sao bà vợ và cô con của Tướng Lê Văn Hưng lại không được hưởng đặc quyền tị nạn ấy? Tại vì Tướng Hưng tự sát chăng?
Vị nào biết rõ trường hợp này xin cho biết.
Luật HO có một điều làm nhiều sĩ quan quân đội tôi bị thiệt thòi: sĩ quan bị tù khổ sai 3 năm được đi HO sang Mỹ, được nhận là người tị nạn chính trị, sĩ quan tù chỉ thiếu 1 ngày là đủ 3 năm không được đi.
Những sĩ quan thương tật, què cụt, mù, giải ngũ, không bị Cộng sản bắt đi tù, không được đi HO. Thương binh quân đội bại trận là những người sống cực khổ nhất. Họ là những người bị lãng quên.